Kinh tế Mỹ sau nhiệm kỳ 8 năm của tổng thống Obama
4 (80%) 1 vote

Brack Obama là vị tổng thống của nước Mỹ từ năm 2009 ông đã đứng chức vị tổng thống khi nên kinh tế nước Mỹ đang ở trong giai đoạn sụp đổ rất nghiêm trọng. Hai nhiệm kì của tổng thống thứ 44 này đã có rất nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực. Trong thời điểm đó trong bến bờ vực tròng trành, tổng thống Mỹ đã vực dậy cỗ xe kinh tế, tạo thêm 15 triệu việc làm cho người dân.

Trách nhiệm vực dậy nền kinh tế thuộc về chính quyền lâm thời lúc đó là ông George W. Bush, Cục dự trữ liên bang (Fed) và Quốc hội. Tuy nhiên, phần lớn các nghị sĩ đảng Cộng hòa của Tổng thống đương nhiệm lúc đó đã kịch liệt phản đối các

Ở thời điểm ứng cử viên Tổng thống gốc Phi Obama bắt đầu được chú ý trong các chiến dịch tranh cử của đảng Dân chủ vào đầu năm 2008, cũng là thời điểm sàn chứng khoán New York hứng chịu hậu quả từ vụ “đắm tàu” lớn nhất trong lịch sử ngành tài chính, ngân hàng Mỹ: Ngân hàng đầu tư và chứng khoán lớn thứ tư của nước này tuyên bố phá sản với khoản nợ 613 tỷ USD.

Tỉ lệ thất nghiệp:

Tháng 10/2009, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ đạt đỉnh 10,3%, mức cao nhất trong 26 năm.

Vào cuối nhiệm kỳ của ông Obama, các công ty ở Mỹ tích cực tuyển nhân công và tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn 4,7% – một dấu hiệu của nền kinh tế khỏe mạnh.

Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ tỷ lệ dân số tham gia lực lượng lao động lại ở mức thấp nhất từ cuối năm 1970. Lý do chính nằm ở chỗ những người thuộc thế hệ “baby boomer” (những người sinh sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ 1946 đến khoảng 1964) về hưu, cộng với một bộ phận dân số ngừng kiếm việc làm việc không thể tìm được việc.

Những nỗ lực và sự thay đổi của chính quyền Obama:

Đúng như khẩu hiệu lúc tranh cử, ông Obama đã hành động “làm thay đổi bộ mặt của nước Mỹ và thế giới”, không chỉ về việc làm cho người thất nghiệp mà còn là sự tăng trưởng GDP, thị trường chứng khoáng, ngành sản xuất, thị trường tiêu dùng,…đưa nền kinh tế dần trở về quỹ đạo tăng trưởng. Tuy nhiên, dù khá chật vật để lấy lại đà tăng trưởng dưới 3%/năm – tỷ lệ tăng trưởng cao nhất so với tất cả các nước phát triển, đây vẫn là điểm mà chính phủ của ông bị đề cập nhiều nhất. Bởi vì, so với mức tăng trưởng trung bình trên 3%/năm trước suy thoái, mức tăng trưởng như hiện nay vẫn bị coi là chậm chạp.

Gói kích cầu gần 800 tỉ USD:

Đại suy thoái đã tác động quá mạnh vào nền kinh tế Mỹ. Để vượt qua khó khăn bủa vây, Tổng thống Obama đã thông qua kế hoạch kích cầu gần 800 tỷ USD, tăng ngân sách liên bang và bơm khoản tiền đó vào các hoạt động kinh tế, giảm thuế để kích thích doanh nghiệp tuyển dụng nhân viên, thuyết phục Fed áp dụng các biện pháp can thiệp bất thường để hỗ trợ kinh tế, nới lỏng chính sách tiền tệ…

Toulouse cho rằng khác với truyền thống trong học thuyết Keynes là thuần túy sử dụng ngân sách để kích cầu, Tổng thống Barack Obama đã vận dụng cùng một lúc ngân sách nhà nước và thuyết phục Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nới lỏng chính sách tiền tệ, giữ lãi suất chủ chốt 0% trong nhiều năm. Ông nói trường phái theo học thuyết của Keynes bắt rễ tại châu Âu, trong khi đó, Mỹ luôn nghiêng về chủ nghĩa tự do.

Ngay cả trong chính sách kích cầu của Mỹ cũng có những khác biệt lớn so với châu Âu. Ở Mỹ, năm 2009, Tổng thống Barack Obama đã ban hành chương trình kích kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD, tăng ngân sách nhà nước liên bang và bơm khoản tiền đó vào các hoạt động kinh tế, chủ yếu là tăng đầu tư công. Nhưng đồng thời ông Obama cũng thuyết phục Fed nới lỏng chính sách tiền tệ, và cả hai biện pháp này cộng lại đã giúp Mỹ nhanh chóng phục hồi.

Chứng khoán Mỹ sau đó đã chứng kiến xu hướng đi lên trong gần 8 năm qua. Chỉ số S&P 500 đến nay tăng hơn 200%. Ông Barack Obama đã trở thành một trong những vị Tổng thống hỗ trợ tốt nhất cho thị trường chứng khoán Mỹ. Hơn 15 triệu công việc làm đến tay người dân. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm nhanh hơn mong đợi từ mức kỷ lục 11% năm 2010 xuống mức 4,7% như hiện nay, thể hiện một nền kinh tế đang có “sức khỏe” tốt.

Một thành công khác của ông Obama được thể hiện qua thống kê về mức thâm hụt ngân sách nhà nước. Năm 2009 khi ông lên cầm quyền, thâm hụt ngân sách nhà nước tương đương với 9,8% GDP, hiện tại, tỷ lệ này rơi xuống còn 3,8% GDP. Nhìn đến chỉ số tăng trưởng, ông Barack Obama chuẩn bị rời Nhà Trắng vào lúc GDP của Mỹ tăng trưởng trở lại với tỷ lệ trên dưới 3%.

Tuy nhiên, để cứu nguy một cỗ máy kinh tế lớn như Mỹ, Washington đã phải huy động rất nhiều vốn, khiến nợ công của cả nước tăng lên, đang từ 75% đầu nhiệm kỳ thứ nhất, nay tỷ lệ này tương đương với khoảng 110% GDP của Mỹ.

Tuy nhiên, nợ công bị cho là điểm trừ về tài chính mà ông Obama đã để lại cho người kế nhiệm. Vì đã dành rất nhiều tiền để kích thích nền kinh tế trong và sau cuộc Đại suy thoái, tổng số nợ của Mỹ hiện đã hơn 19.000 tỷ USD, tăng từ khoảng 10.000 tỷ USD khi ông Obama nhậm chức. Như vậy, dù Tổng thống Obama đã giảm được thâm hụt ngân sách hàng năm trong suốt nhiệm kỳ, nước Mỹ vẫn đang chi nhiều hơn thu. Theo số liệu của các chuyên gia, tỷ lệ nợ trên GDP của nước Mỹ dưới thời Tổng thống Obama đã tăng mạnh từ 50% lên 77%.

Một thất bại nữa là khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, năm 2009, 1% những người giàu nhất nắm giữ 16,7% tổng sản phẩm của nước Mỹ, đến nay tỷ lệ này lên tới 18,4%.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *